TÍNH VỊ QUY KINH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Tính vị quy kinh là một trong nhiều dược lý quan trọng của Đông y, để thuốc có thể tác động vào một hoặc nhiều tạng phủ trong cơ thể nhằm tạo sự cân bằng âm dương trong cơ thể.

Quy kinh là gì?

Quy kinh trong Đông y là vị trí trong cơ thể mà thuốc có tác dụng đến nhiều nhất. “Quy” là sự tập trung tác dụng của thuốc. “Kinh” nghĩa là các vị trí tạng phủ của cơ thể.

Tùy vào tính dược lý của từng loại thuốc mà tác động vào một vị trí (một kinh) hay nhiều vị trí (nhiều kinh). Nhìn chung, khi kê đơn thuốc, các thầy thuốc Đông y thường dựa vào số lượng kinh để tăng tác dụng điều trị.

Ngoài ra, tạng phủ, kinh lạc thường có mối liên kết và ảnh hưởng lẫn nhau, vì thế các thầy thuốc Đông y thường sử dụng các vị thuốc có khả năng đi vào nhiều kinh hơn.

Tính vị là gì?

Từng bài thuốc sẽ có sắc vị khác nhau, bạn sẽ nhận ra năm vị (ngũ vị) điển hình bằng vị giác nhất đó là: Chua (toan), mặn (hàm), ngọt (cam), cay (tân), đắng (khổ) và cuối cùng là vị đạm không thể nhận biết qua vị giác nên ở một số tài liệu sẽ ghi là lục vị.

  • Vị chua: Có trong các dược liệu như Sơn thù có công dụng chữa các bệnh

mồ hôi. Ngoài ra còn có Kha tử, Ngũ bội tử, chữa trị các bệnh về tiêu hóa, tiêu chảy thời gian dài hoặc Ô mai chữa đau bụng.

  • Vị mặn: Hiệu quả trong việc chữa táo bón, viêm và lao hạch có thể làm mềm

các vùng bị cứng hoặc ứ đọng chất rắn.

  • Vị cay: Bổ sung chất dinh dưỡng trong chữa trị các bệnh về chứng hư như

Mạch môn để giảm cơn đau dạ dày. Giảm bớt độc tính của thuốc hay giải độc cơ thể khi dùng thuốc.

  • Vị đắng: Dùng để chữa chứng nhiệt, chứng thấp, ví dụ như Hoàng liên,

giải nhiệt trừ thấp chữa lỵ và ỉa chảy nhiễm trùng.

  • Vị đạm: Có trong các dược liệu như Ý dĩ, Hoạt thạch có tác dụng lợi niệu.

Mối quan hệ giữa tính vị và quy kinh trong Đông y

Mối quan hệ lấy lý luận ngũ hành làm cơ sở, đặc biệt là quan hệ giữa ngũ tạng với ngũ sắc, ngũ vị, ngũ khí. Cụ thể bao gồm như sau:

Thuốc có vị chua, sắc xanh quy vào kinh Can.

Thuốc có vị mặn, sắc đen quy vào kinh Thận.

Thuốc có vị cay, sắc trắng quy vào kinh Phế.

Thuốc có vị đắng, sắc đỏ quy vào kinh Tâm.

Thuốc có vị ngọt, sắc vàng quy vào kinh Tỳ.

Từ đó người thầy thuốc mới bào chế (xao tẩm) từng vị thuốc sao cho tính vị phù hợp với tạng phủ cần thuốc.

TINH VỊ QUY KINH CỦA CÁC VỊ THUỐC PHỔ BIẾN.

1 Quế Chi: Vị cay ngọt tính ấm,quy vào kinh tâm, phế, bàng quang.
2 Tân Di : Vị cay, tính ấm, quy vào kinh phế, vị.
3 Ma Hoàng : Vị cay ngọt tính ấm, quy vào kinh tâm phế, bàng quang
4 Cúc Hoa: Vị ngọt, đắng tính hơi lạnh, quy vào kinh phế, can thận.
5 Tang Ký Sinh: Vị đắng tính bình, quy vào kinh can, thận.
6 Dây Đau Xương: Cây dây đau xương có tính vị đắng, mát, quy vào kinh can.
7 Thổ Phục Linh: Vị ngọt, tính bình, quy vào kinh can, thận, vị.
8 Thiên Niên Kiện: vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm, quy vào kinh can, thận
9 Ngũ Gia Bì : Vị cay tính ấm, quy vào kinh can thận
10 Khương Hoạt: vị đắng, cay, mùi thơm, có tính ấm, tác dụng lên các kinh can, thận và bàng quang.
11 Độc Hoạt : Vị cay, tính ôn, quy vào hai kinh can, thận.
12 Thương Truật : Vị cay, thơm, đắng, tính ấm vào kinh tỳ vị.
13 Mạn Kinh Tử Vị cay, đắng, tính hơi hàn, vào 3 kinh can, phế và bàng quang.
14 Sài Hồ :Vị đắng, tính hơi hàn (một số tài liệu ghi chép tính bình); đi vào các kinh can, đởm, tâm bào và tam tiêu.
15 Phù Bình : Vị cay tính lạnh, quy vào kinh can phế.
16 Ngưu Bàng Tử: vị cay, đắng, lạnh, quy vào kinh phế, vị.
17 Uy Linh Tiên: vị đắng tính ôn, thân có vị ngọt nhạt, hơi đắng tính mát vào kinh bàng quang.
18 Phòng Phong : vị cay ngọt tính ấm vào kinh can,bàng quang
19 Chi Tử : Vị đắng tính lạnh vào kinh tâm, can, phế, vị, tam tiêu.
20 Hạ Khô Thảo : vị đắng, cay, lạnh vào kinh can đởm.
21 Tri Mẫu : Vị đắng ,tính lạnh,vào kinh tỳ, vị, thận.
22 Địa Cốt Bì: Vị ngọt đậm, tính bình vào kinh phế,can, thận.
23 Sinh Địa: Vị đắng, tính lạnh,vào kinh tâm, can, thận.
24 Huyền Sâm: Vị đắng, ngọt, tính mát, quy vào kinh Phế, Thận.
25 Bạch Mao Căn: vị ngọt, lạnh tính hàn, vào kinh Tâm, Tỳ, Vị
26 Xích Thược : Có tính hàn, vị chua đắng, quy vào kinh Tỳ, Can.
27 Mẫu Đơn Bì : Vị ngọt ,đắng lạnh vào kinh Phế, Tâm, Can, Thận.
28 Kim Ngân Hoa : Vị đắng, tính lạnh vào kinh Phế ,Vị, Tâm, Tỳ
29 Liên Kiều : Vị đắng, tính hàn, hơi chua, quy kinh (kinh thận, vị, kinh phế, kinh thận, kinh tâm, can bàng quang, phế, đờm, đại trường, tam tiêu).
30 Hoàng Liên : Vị đắng, tính hàn và không chứa độc tố, quy vào kinh Tâm, Can, Tỳ, Vị và Đại trường.
31 Nhân Trần : vị đắng, cay, tính hơi hàn, quy kinh Tỳ, vị, Can Đởm.
32 Hoàng Cầm: Vị đắng, tính lạnh, quy vào 5 kinh bao gồm: Tâm, Phế, Can, Đởm và Đại trường.
33 Hoàng Bá : vị đắng, tính hàn, quy vào kinh Tỳ, Thận và Bàng quang.
34 Kim Tiền Thảo : Vị đắng, tính bình vào  kinh Can, Vị.
35 Long Đờm Thảo : Vị đắng, lạnh vào kinh Can, Đởm, Bàng quang.
36 Thông Thảo: Vị ngọt nhạt, tính hàn, quy vào kinh Phế và Vị.
37 Đại Hồi: Vị cay, mùi thơm, tính ấm, quy vào bốn kinh Can, Thận, Tỳ và Vị.
38 Ngô Thù Du : vị cay đắng, rất nóng vào kinh can, tỳ, thận.
39 Phụ Tử Chế: Vị cay ngọt, tính rất nóng vào 12 kinh.
40 Nhục Quế: Cay ngọt, rất nóng vào kinh Can,Thận.
41 Câu Đằng: vị ngọt, bình vào kinh Can, Tâm bào lạc.
42 Toan Táo Nhân: vị ngọt, tính bình, chua, vào kinh Can,Tỳ, Thận, Đởm.
43 Thiên Ma: vị ngọt, tính ấm, quy kinh Can
44 Viễn Chí: Vị đắng, the, tính ôn và quy vào 2 kinh Tâm, Thận.
45 Lạc Tiên: Tính bình, vị ngọt, quy vào kinh Tâm, Can
46 Bối Mẫu : Đắng, lạnh vào kinh Tâm, Phế
47 Bạch Giới Tử : Vị cay, tính ấm vào kinh Can, Tỳ, Phế, Tâm bào lạc .
48 Hạnh Nhân: Vị ngọt, tính bình, vào kinh Phế, Đại trường
49 Tang Bạch Bì: Vị ngọt, tính hàn, không độc. Quy vào các kinh Phế, Tỳ.
50 Ngũ Vị Tử: Vị chua tính ấm,vào kinh phế, Thận.
51 Tang Phiêu Tiêu: Vị ngọt, mặn, tính bình vào kinh Can, Thận
52 Sơn Thù Du: Có vị chua, tính hơi ôn, quy kinh Can, Thận.
53 Sơn Tra(Táo Mèo): Vị chua, ngọt, tính âm, vào kinh Tỳ, Vị, Can.
54 Trần Bì: Vị cay, đắng, tính ôn, quy kinh Tỳ, Phế.
55 Chỉ Thực Và Chỉ Xác: Vị đắng chua, bình vào kinh Tỳ,Vị.
56 Đan Sâm: Vị đắng tính hơi lạnh vào kinh Can, Tâm, Tâm bào lạc
57 Xuyên Khung: Vị cay nồng, tính ấm và tác dụng lên Gan, túi Mật và màng tim.
58 Ích Mẫu : Vị cay, tính hơi lạnh vào kinh Can, Tâm bào lạc.
59 Ngưu Tất: Có vị đắng, chua, tính bình, vào 2 kinh Can và Thận.
60 Đào Nhân: Vị đắng ngọt, tính bình vào Tâm, Can.
61 Tạo Giác Thích: Vị cay tính ấm đi vào kinhCan, Vị.
62 Khương Hoàng: Vị cay đắng, tính đắng, ôn vào kinh Can,Tỳ.
63 Hoa Hòe: Vị đắng, tính lạnh vào kinh Can,Đại trường
64 Thiên Môn Đông: Vị ngọt, đắng, tính lạnh vào 2 kinh Phế, Thận.
65 Kỳ Tử: Vị ngọt, tính bình vào kinh Phế, Can,Thận
66 Bạch  Thược: Vị đắng, chua, tính lạnh vào kinh Can,Tỳ, phế.
67 Cẩu Tích: Vị đắng, ngọt, tính ấm vào kinh Can,Thận.
68 Ba Kích Thiên: Vị cay, ngọt, tính ấm vào kinh Thận.
69 Đỗ Trọng: Vị ngọt, cay, tính ấm đi vào kinh Can,Thận.
70 Đẳng Sâm : Vị ngọt, tính bình vào kinh Tỳ,Phế.
71 Hoài Sơn: Vị ngọt, tính bình vào kinh Tỳ,Vị, Phế, Thận.
72 Đương Quy : Vị ngọt, cay, tính ấm đi vào kinh Tâm, Tỳ, Can.
73 Thục Địa : Vị ngọt, tính ấm, vào kinh Can, Tỳ, Thận.
74 Trạch Tả : Vị mặn, hơi ngọt, tính hàn đi vào kinh Can, Thận, Bàng quang.
75 Bạch Truật : Vị cay, đắng, ấm, đi vào kinh Tỳ, Vị.
76 Bạch Linh : Vị nhạt, tính bình, đi vào kinh Tỳ, Phế, Tâm, Thận.
77 Bạch Chỉ : Tính ấm, vị cay. Vào kinh Phế, Vị, Đại tràng.
78 Bán Hạ : Vị cay, tính ôn có độc, đi vào kinh Tỳ, Vị, Phế.
79 Hồng Hoa : Vị cay, tính ấm đi vào kinh Tâm, Can
80 Tần Giao : tính cay, vị đắng, tính hơi hàn, quy vào ba kinh Can, vị, Bàng quang.
81 Lô Căn : Vị ngọt, tính hàn. Đi vào kinh Vị, Phế, Thận
82 Thương Nhĩ Tử : Ngọt nhạt, hơi đắng đắng, tính ấm, hơi có độc, đi vào kinh Phế.
83. Mạch Môn : Vị ngọt, tính mát, hơi đắng. Vào kinh Phế, Vị, Tâm