THIÊN MÔN LG

Thiên môn đông có tên khoa học là: Asparagus cochinchinensis.

Thiên môn đông còn có tên gọi khác là Thiên môn, Dây tóc tiên, là loài cây ưa sáng và tàn lụi vào mùa đông hoặc mùa khô.

Theo cuốn sách Thần nông bản thảo kinh, Thiên môn đông còn có tên là Minh thiên đông,Thiên đông, là cây dây leo sống lâu năm, phổ biến ở vùng Trung Bộ, Đông Bắc, lưu vực sông Trường Giang đến vùng đất phương Nam. Trong Bản thảo kinh độc  có viết: Thiên môn có tác dụng thông khí huyết, mà trên thông với trời, nên gọi là “Thiên đông”, cũng vì có tính bình nhưng thực hàn.

ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT

Thiên môn đông là cây thân leo lâu năm, thân màu xanh nhạt, mảnh, bề mặt nhẵn, thường cong hoặc xoắn, dài 1-2m. Thường mọc ở sườn núi, ven đường, dưới rừng cây, thung lũng hay bãi đất hoang, có độ cao dưới 1.750 m. Rễ củ có hình thoi, phình ra ở giữa hoặc gần cuối, dài 3-5cm và dày 1-2cm, mọc thành chùm; lõi giữa có màu trắng ngà. Thân mang nhiều cành dài nhọn có 3 cạnh, biến đổi giống như lá, có hình liềm, thường mọc thành cụm 3 hàng một, phẳng hoặc hơi nhọn hình tam giác do gân giữa có hình dạng ke, hơi cong, dài 0,5–8 cm và rộng 1–2 mm. Lá thật rất nhỏ, giống như vẩy, hoa ở nách lá màu xanh nhạt, quả màu đỏ, cành có góc cạnh hoặc có cánh hẹp. cành lá Cụm hoa thường có hai hoa ở nách lá với các cánh hoa xen kẽ, màu trắng xanh; hoa đơn, nhỏ. Cuống dài 2–6 mm. Thời kỳ ra hoa và đậu quả thường từ tháng 5 đến tháng 10. Quả mọng, hình cầu; khi quả chín, nó có màu đỏ, đường kính 6–7 mm, mỗi quả chỉ có một hạt.

Thiên môn đông phân bố rộng rãi ở các vùng ôn đới và nhiệt đới, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Tại Việt Nam, cây mọc hoang tại các vùng ven biển phía nam, ở ngoài bắc được trồng để làm thuốc.

THU HÁI VÀ BÀO CHẾ

Bộ phần dùng là rễ củ, những đoạn rễ có hai đầu thuôn nhỏ lại, có màu vàng nhạt tới vàng nâu, trong, mờ, sáng bóng. Thể chất cứng, dai, có chất nhầy dính, mặt cắt ngang mịn màng và bóng nhẹ; có mùi nhẹ, vị đắng nhẹ.

Rễ củ Thiên môn đông thường được thu hái vào mùa thu đông, rửa sạch, loại bỏ rễ xơ, giữ lại củ, chần qua nước sôi 15 phút rồi bóc vỏ và bỏ lõi, tiếp tục sấy khô để thu được phần dược liệu.

Trong bài này Thiên môn được tẩm với Gừng để khử bớt tính hàn và dẫn vào tạng Phế. Thiên môn sơ chế xong sẽ tẩm nước gừng sấy khô, sau đó tẩm nước mía (mật đường) sấy và liên tục tẩm sấy (tứ chế) sao cho đạt độ dẻo và bảo quản sản phẩm được tốt nhất.

TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN:

Rễ củ Thiên môn đông có tính đại hàn, vị ngọt, đắng, quy vào kinh phế, thận, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, tiêu đờm, lợi tiểu, nhuận tràng.

Trong đông y, cây Thiên môn đông được dùng trong chữa ho, viêm họng, viêm mũi, tiểu đường, táo bón. Dạng dùng ngoài da giúp trị mụn nhọt, viêm da có mủ, rắn cắn.

Theo cuốn sách Thần nông bản thảo kinh có viết: Thiên môn đông có vị đắng, tính hàn. Chủ trị phong thấp cấp dẫn đến bán thân bất toại, có tác dụng mạnh gân cốt. Bên cạnh đó, dược liệu còn có tác dụng ngăn chặn các yếu tố gây bệnh xâm nhập vào cơ thể. Sử dụng lâu dài tốt cho cơ thể gầy yếu, bổ ích nguyên khí, tăng cường chức năng hoạt động của cơ thể, kéo dài tuổi thọ.

Thiên môn đông có công dụng trừ thấp nhiệt. Ngoài ra, phong độc, khí độc ở bên ngoài xâm nhập vào cơ thể là yếu tố dẫn đến đau nhức chân tay, phong thấp, bán thân bất toại, và Thiên môn đông đều có thể chữa trị. Thiên môn đông thân mập, mọc lan rộng, mềm trơn, vì thế mà “không chứng tắc nghẽn nào không thể trị thông”, cho nên có tác dụng trị phong thấp tốt nhất. Thiên môn đông đạt được tinh hoa của hàn thủy, nên giúp dưỡng thận thủy, bổ gân cốt, thận khỏe thì nguyên khí sung mãn, nguyên khí sung mãn thì không đói không khát, tuổi thọ tự nhiên được kéo dài.

Trong bản thảo cương mục có viết: Thiên môn đông có tác dụng thanh nhiệt, ngoài ra còn có tác dụng “thanh kim – giảng hỏa”, nhuận phổi, hóa đờm, thích hợp trị các chứng bệnh ho có đờm, ho khan. Nó có tác dụng thông thận khí, trị dương vật không cương cứng.

Trong thương hàn – dược tính phủ cho rằng: Thiên môn đông thanh nhiệt hóa đờm, đồng thời còn có công hiệu chữa bệnh thận.

Về sau Y học lâm sàng hiện đại thường xuyên sử dụng để thanh trừ hỏa phế, thận âm hư, nhuận tràng, trị ho lao, nôn ra máu, lưỡi khô miệng khát, táo bón…

Nghiên cứu đã chứng minh, Thiên môn đông có tác dụng chống nấm, vi khuẩn, phù thũng, ung nhọt, diệt ấu trùng của ruồi, muỗi. Nhưng cần chú ý, nếu như có hiện tượng tỳ vị hư hàn, bệnh tiểu đường, tốt nhất là không nên dùng.

LỢI ÍCH CỦA SẢN PHẨM:

Thiên môn đông có vị ngọt, đắng, tính hàn; quy kinh vào Phế và Thận.

Giúp thanh nhiệt, nhuận phế, tiêu đờm, chuyên trị các chứng ho khan, ho gió, viêm họng và viêm mũi.

Giúp lợi tiểu, hạ sốt, hết táo bón và các vấn đề ngoài da như mụn nhọt, viêm da mủ.

ĐẶC BIỆT: Hỗ trợ chứng suy nhược cơ thể và giúp dưỡng âm, sinh tân dịch.

Theo nghiên cứu: Rễ củ Thiên môn đông chứa các hoạt chất quan trọng như asparagin, saponin steroid, flavonoid, chất nhầy và các acid amin tự do.

Ngoài năm nhóm hợp chất hóa học thực vật chính được đề cập ở trên, các thành phần khác cũng đã được phân lập, bao gồm một số Flavonoid, tinh bột, đường, chất nhầy, chất khoáng.

CÁC BÀI THUỐC TỪ CÂY THIÊN MÔN ĐÔNG

  • Cao Thiên môn: giảm ho, bổ phổi, nhiều đờm, nóng tim, khô miệng, hay khát

Nguyên liệu: Thiên môn đông tươi, 7 chén rượu, 1 chén Mạch nha, Tử uyển.

Cách làm: Thiên môn đông rửa sạch bỏ vỏ bỏ lõi, giã lấy nước cốt. Cho nước cốt vào nồi, thêm các nguyên liệu còn lại, nấu thành cao, mỗi ngày uống một lượng bằng quả táo.

  • Bổ phổi yếu, hư lao, phong nhiệt:

Nguyên liệu: Thiên môn đông, Mật ong.

Cách làm: Thiên môn đông chế, sấy khô, tán thành bột mịn, trộn với mật ong, vo thành viên hoàn, mỗi lần uống 20 viên cùng trà ấm.

Hoặc có thể nấu chín Thiên môn đông tươi rồi bỏ vỏ và lõi, ăn trực tiếp.

  • Trị suy yếu, phục hồi sau ốm sốt lâu ngày:

Nguyên liệu: Nhân sâm 4 – 8g, Thiên môn đông, Thục địa mỗi vị 10 – 20g.

Cách làm: Sắc lấy nước uống mỗi ngày 1 thang.

  • Tư âm, dưỡng huyết, ôn bổ hạ nguyên:

Nguyên liệu: Thiên môn đông, Sinh địa mỗi vị 80g, Nhân sâm 40g, Táo tàu 9 quả.

Cách làm: Rửa Thiên môn đông, sinh địa bằng rượu, sau đó chưng chín và phơi 9 lần tới khi thật khô. Nhân sâm tán thành bột mịn, táo tàu bỏ hạt, trộn đều tất cả, giã nhuyễn, vo thành viên hoàn nhỏ như hạt ngô, uống với rượu nóng 30 viên/lần x 3 lần/ngày trước khi ăn.

  • Mờ nám da mặt:

Nguyên liệu: Thiên môn đông chế, sấy khô.

Cách làm: Nghiền mịn trộn với mật ong, thêm chút dầu thực vật dùng làm mặt nạ mỗi ngày.

  • Cải thiện làn da, nhan sắc tươi trẻ:

Nguyên liệu: Thiên môn đông, thục địa, hồ ma nhân.

Cách làm: Tán nhuyễn, trộn với mật ong, vo thành viên hoàn bằng hạt long nhãn, mỗi lần uống 20 viên với nước nóng.

PHÂN BIỆT THIÊN MÔN ĐÔNG VÀ THIÊN MÔN CHÙM

THIÊN MÔN ĐÔNG THIÊN MÔN CHÙM
Tên thường gọi Củ éo biển Củ éo núi
Tên khoa học Asparagus conchinchiensis Asparagus racemosus
Đặc điểm thực vật Hoa đơn tính, quả hình cầu có một hạt duy nhất Hoa lưỡng tính, quả chia 3 múi, có thể chứa nhiều hạt
Công dụng Dưỡng phế âm, lợi tiểu, tiêu viêm Dưỡng thận âm, bổ bào cung,